fbpx

Cây sưa đỏ – dalbergia tonkinensis prain

Tên khác : huê mộc, trắc thối.

Họ: đậu cánh bướm- fabaceae.

 Đặc điểm hình thái sưa đỏ.   

   Là cây gỗ nhỡ rụng lá theo mùa, cao từ 6-12m (cũng có thể cao tới 15m), sinh trưởng trung bình. Thân cây dạng hợp trục, dáng phân tán. Vỏ thân cây màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Cành non màu xanh, có lông mịn thưa.
    mọc cách, cấu tạo lá dạng kép lông chim lẻ, mỗi là kép có từ 9-17 lá chét đính so-le trên cuống chính. Lá chét hình xoan thuôn, đầu nhọn hoặc có mũi ngọn, đuôi tròn, mặt dưới phiến lá thường có màu tái trắng. Kích thước lá chét dài từ 6-9cm, rộng từ 3-5cm, lá ché đính ở đầu cuống kép thường có kích thước lớn hơn các lá còn lại. Cuống chính và các cuống lá chét không lông, phiên lá chét không lông. Có lá kèm nhỏ không lông, sớm rụng.
    Hoa mọc ra từ nách lá, thường xuất hiện trước khi lá mọc đầy đủ. Hoa tự tán gồm nhiều bông màu trắng, có kích thước 7-9mm, mùi thơm nhẹ. Mùa hoa vào tháng 2-3. Quả dạng đậu hình trứng thuôn dài, dài 5–7,5 cm, rộng khoảng 2-2,5 cm. Quả chứa 1-2 hạt, mỗi hạt có đường kính khoảng 8-9mm, hình thận dẹp. Quả khi chín không tự nứt.

Phân bố ứng dụng.

  Là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dày, độ ẩm cao. Phân bố ở đai độ cao tuyệt đối dưới 500m.     Trong tự nhiên tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới và rừng mưa nhiệt đới gió mùa. Chủ yếu phân bổ ở Việt Nam và được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc 

  Cây Sưa có thể được trồng làm cây cảnh quan đường phố, cho hoa đẹp vào đầu xuân. Ở thành phố Hà Nội, cây Sưa gắn liền với đời sống văn hóa lâu năm, trước đây thiếu nữ Hà Nội thường dùng hoa Sưa trắng để gội đầu mượt tóc và cho hương thơm.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.